
Từ năm 2001 đến nay, tốc độ tăng GDP của Việt Nam khá cao, bình quân đạt 7,3%/năm, kim ngạch xuất khẩu năm 2008 đạt 62,685 tỷ USD, gấp 4,3 lần năm 2000. Tuy nhiên là một nước mà kim ngạch xuất khẩu tương đương với khoảng 70%GDP, lại tập trung vào những thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản... là những thị trường chịu ảnh hưởng lớn của cuộc khủng hoảng kinh tế khiến cho việc xuất khẩu của Việt Nam cũng bị tác động mạnh. Cụ thể: kim ngạch xuất khẩu 3 quý đầu năm 2009 đạt 41,736 tỷ USD, giảm đến 14,3% so với cùng kỳ năm 2008. Trong đó, sự sụt giảm về xuất khẩu vào các thị trường cũng có khác nhau, như: xuất khẩu vào thị trường châu Á giảm 18,7% (so với cùng kỳ năm 2008), trong đó xuất khẩu sang Nhật giảm 37,4%; sang EU giảm 11,4%... Các chuyên gia kinh tế nhận định: đây đang là thời gian của “hậu suy thoái kinh tế”, do đó cơ quan quản lý điều hành kinh tế trong nước cũng như các doanh nghiệp trong nước nói chung và khu vực miền Trung nói riêng cần đưa ra những giải pháp để phục hồi và phát triển.
Ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, hiện là thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính- Tiền tệ Quốc gia, Chuyên gia cao cấp Văn phòng Chính phủ nhận định, nền kinh tế nước ta vẫn bộc lộ những khuyết điểm và yếu kém nghiêm trọng như: tăng trưởng kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào các yếu tố bên ngoài (vốn, thị trường), cụ thể năm 2000 đóng góp của khu vực FDI vào GDP là 13,8% nhưng đến năm 2008 đã lên đến 18,68%. Năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm và của nền kinh tế kém. Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ tụt hậu rất xa so với các nước trong khu vực (thu nhập bình quân đầu người năm 2007 của nước ta chỉ bằng 42% của Indonesia, 33% của Trung Quốc, 20% của Thái Lan, 11% của Malaysia). Theo ý kiến của ông Tuyển, muốn khôi phục và phát triển nền kinh tế của cả nước cần phải xác định rõ tiền đề tái cấu trúc kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng; Trong tái cấu trúc kinh tế phải có tái cấu trúc cơ cấu kinh tế, tái cấu trúc doanh nghiệp, tái cấu trúc các ngành sản xuất, điều chỉnh chiến lược phát triển thị trường; Tích lũy và phát triển các giá trị nội địa theo 2 hướng chính: một là tăng hàm lượng nội trong giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ, hai là phát triển lực lượng doanh nghiệp trong nước; Coi trọng chức năng phát triển của Nhà nước; Điều chỉnh cơ cấu đầu tư nước ngoài theo hướng ưu tiên các dự án đầu tư vào công nghiệp chế tạo các lĩnh vực công nghệ cao nhằm phát huy vai trò dẫn dắt và khả năng liên kết của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp chế tạo trong nước.
Hiện nay, doanh nghiệp Việt Nam đang mắc phải những hạn chế và khuyết điểm như: quy mô nhỏ, năng lực tài chính, năng lực công nghệ và năng lực tổ chức thị trường yếu; nguồn nhân lực chất lượng thấp, kỹ năng quản lý doanh nghiệp hạn chế; thiếu tính sáng tạo đổi mới, tư duy không theo kịp với sự chuyển biến của thị trường và đối thủ cạnh tranh; chưa đặt khách hàng vào vị trí trung tâm; thiếu xây dựng chiến lược kinh doanh, lựa chọn sản phẩm cốt lõi và thị trường trọng điểm... Ông Nguyễn Công Phú- Tổng giám đốc Công ty APAVE Việt Nam& Đông Nam Á cho rằng, “Đổi mới quản trị là cơ hội vượt qua khủng hoảng”. Nhiều đại biểu tham gia hội thảo cũng đã cho rằng cần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Ông Trương Đình Tuyển cho rằng, cần phải nâng cao sự cạnh tranh của doanh nghiệp để giữ vững và phát triển thị phần, mở rộng sản xuất kinh doanh. Trong công tác này (có 8 nội dung) cần chú trọng đến phát triển nguồn nhân lực, điều chỉnh quy mô sản xuất.
Ông Nguyễn Quang Dy- Cố vấn cấp cao của Công ty APAVE Việt Nam&Đông Nam Á cho rằng, cần chuyển đổi mô hình nhân lực. Theo chiến lược này, ông Dy cho rằng cần chuyển mô hình cũ Quản lý hành chính nhân sự sang mô hình mới là Quản trị nhân sự + Phát triển nguồn nhân lực; nên phát hiện, đào tạo và bổ nhiệm lãnh đạo trẻ có năng lực (7X, 8X), có chế độ đãi ngộ và trọng dụng, tăng lương và thưởng thích đáng cho cán bộ có đóng góp...
Các tin liên quan:
Back