Bài viết chuyên gia

Tình Thương

Vậy là ta đã về với đất mẹ Việt Nam thân yêu của ta. Ôi! Sao bao tháng ngày xa cách, giờ ta lại tìm được cảm giác một mình trong ly cafe Việt Nam giữa phố phường qua lại trong dòng người tấp nập vội vã cho cuộc mưu sinh của mình.


Kính gởi lời chúc sức khỏe (điều quan trọng nhất của một đời người) đến tất cả thành viên APAVE.

Đầu xuân năm mới chúc BÌNH AN
Chúc luôn hạnh phúc chúc AN KHANG
Chúc sang năm mới nhiều TÀI LỘC
Công thành danh toại chúc VINH QUANG

 

Ks. Nguyễn Vĩ Kiện                                

Phòng xây dựng - chi nhánh APAVE Hồ Chí Minh

Công ty APAVE Việt Nam & Đông Nam Á

 

Có những hạnh phúc tưởng chừng như rất đơn giản: một cái ôm bên người mẹ già thân yêu, nụ cười của đồng nghiệp, cái hờn ghen của tuổi trẻ, những lời hỏi thăm của người thân và cả người không thân đều khiến ta xao lòng. Bất chợt nghĩ về kiếp người nhỏ nhoi giữa phố thị phồn hoa, lòng tự hỏi mình: Hạnh phúc là gì? Rồi như tìm được câu trả lời trong câu nói của người Huế ngày ấy. Hạnh phúc là gì? Hạnh phúc là 1 ly cafe và nhạc Trịnh. Người Huế giản đơn như vậy đấy. Người nhạc sĩ tài hoa đã tạo ra những hạnh phúc tưởng chừng quá đơn sơ và mộc mạc ấy mà lại khiến hàng ngàn, à không hàng triệu con tim cũng xao lòng. Ta không quá thông minh để hiểu những vần nhạc của Người, nhưng đủ để ta trải nghiệm, xua tan đi những “ vô thường” trong cuộc sống.

 

Mày đi nước ngoài về, mua quà gì cho me vậy?- một anh bạn hỏi tôi

 

Tôi cười đáp “ suốt 6 tháng con đi Libya, quà về cho me là mái tóc pha sương”. Tôi chẳng mang gì về cho bà cả, mà bà nào có giận tôi đâu. Bà vẫn cười và luôn cười. Tôi trở về để đứa con trai thân yêu  thưởng thức những bữa cơm do chính tay bà nấu thì đối với bà chính là món quà lớn nhất rồi đấy. Tôi từng hỏi bà có ước mơ gì, bà chỉ mong “ có sức khỏe để sống thọ với thằng T ”. Cái ước mơ của bà đơn giản như chính con người bà vậy. Bà chính là hiện thân của lòng từ bi, bác ái đúng như lời dặn mà bà thường nói “ đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng ”. Rồi qua nhà một người bạn của mẹ, nghe bà “tám”:

 

Con biết không, lúc con dzô phòng chờ đợi rồi, bả ở ngoài bả khóc quá trời, bả nói bả thương con nhất nhà, giờ con đi rồi, bả chẳng buồn nấu cơm luôn.

 

“Bỗng dưng” giật mình…

 

 “Con đi rồi, hai ông bà hay dẫn ra tiệm ăn lắm, bả nói có hắn thì mình còn nấu cho nó ăn, giờ nó đi rồi vì còn mình ba con, bả ít nấu lắm”.

 

Ôi! Cái sự hy sinh thầm lặng của bà, tôi biết lắm chứ, mà tôi nào có hiểu hết đâu. Lúc vô phòng đợi, tôi lúc nào cũng hớn hở, còn bà cũng cười và cười đấy thôi. Giờ nghe lại những lời “tám” của bà hàng xóm thì mới thấy bà vĩ đại biết dường nào. Có là một người sỏi đá, thì lòng cũng không khỏi nhói đau. Mà cũng không thể khóc, thì đành mượn hai câu thơ mà nhà thơ Đỗ Trung Quân đã từng nói như là một lời nhắc nhở “cho những ai, cho những ai đang còn mẹ”

 

Con hốt hoảng trước thời gian khắc nghiệt

Chạy điên cuồng qua tuổi mẹ già nua

 

Thôi! Những sự hy sinh vĩ đại của bà thì có viết bao nhiêu cũng không đủ, mà cũng không thể đủ được khi lòng bao dung của bà quá rộng lớn, bài viết cũng chỉ xin là một “đóa hoa vô thường” tặng bà vậy.

 

Trở về cùng phố phường Sài Gòn, tham gia cùng những câu chuyện đời thường, cũng còn đó những cảnh chờ đợi trong khói bụi cùng tiếng rầm rì xe máy, cũng những “ nồi cơm điện” trên đầu cùng những cái lắc đầu nhìn nhau, cũng những tiếng bấm còi inh ỏi muốn vượt lên trước, cũng còn đấy những con người lầm lũi lê từng bước chân qua từng nẻo đường Sài Gòn. Dẫu biết cái khổ, cái nghèo ở đâu mà chẳng có, nhưng lòng vẫn không khỏi xót xa khi biết những bà mẹ Quảng Ngãi bán từng hạt đậu phụng, những bao trứng cuốc trong những quán nhậu, những tờ vé số trên phố phường Sài Gòn đầy khói bụi trong những tiếng xua đuổi chỉ để mong có tiền cho đứa con thân yêu của mình theo ăn học thành tài. Rồi người cha già đẩy xe bán hàng qua “những nẻo đường phù sa” cũng cho đứa con thân yêu của mình đấy.

 

Sài Gòn vẫn vậy, vẫn những con đường đầy gió bụi xen lẫn tiếng ồn ào xe cộ giữa phố phường, vẫn những mái nhà đan xen chen chúc theo quy luật “không theo quy luật nào cả” , vẫn những con người nhạt nhòa, lam lũ trong khói bụi, dù là khói bụi đường trần, hay là khói bụi đường đời thì tất cả đều phủ lên mọi nỗi cơ hàn vất vả. Nhịp đời ở đâu cũng vậy, cũng tất bật vội vàng. Cuộc sống mưu sinh khiến con người luôn bộn bề lo toan. Trăm nỗi cơ hàn vất vả là thế đấy. Và họ cũng vậy, vẫn khắc khổ, nghèo nàn trong tội nghiệp và đáng thương biết bao. Cố bám víu để tin về một đổi thay tốt đẹp có lẽ là một trong những hy vọng mong manh của kiếp nghèo ấy. Thôi thì giấc mơ đổi đời đã là một điều gì đó quá xa vời thì họ đành phải gác lại cho những đứa con thân yêu của mình trong câu kể “ đời mình coi như bỏ đi rồi, bây giờ cố gắng làm lụng cho nó ăn học tới nơi tới chốn, để nó có cái chữ, đừng để nó như mình, lại khổ thêm một đời”.

 

Gác lại câu chuyện về những mảnh đời hy sinh thầm lặng ấy, ta “mua” cảm giác hạnh phúc chỉ với 7000đ cho 1 ly café Việt Nam ngay cạnh nhà thờ Đức Bà Paris cổ kính giữa phố phường Sài Gòn và cũng muốn quên những câu chuyện “ vô thường” ấy. Một hạnh phúc rất là bình thường, nếu không muốn nói là tầm thường. Lại bỗng dưng giật mình:

 

Chú mua giùm tờ vé số chú?- một người đàn bà lưng hơi còm hỏi tôi

 

Một ngày cô kiếm được bao nhiêu?- tôi hỏi

 

Khoảng năm chục ngàn chú, có khi bốn chục, cũng có khi ba chục – bà ta trả lời

 

Thế cô có nuôi ai không?-tôi hỏi tiếp

 

Tui có thằng con đang học ở trường Đại học Công Nghiệp bên quận 4 ấy- bà ta trả lời

 

Thế nó có phụ cô không? -tôi hỏi tiếp

 

Nó cũng có đi làm thêm chứ mình tui nuôi sao đủ chú.Không biết Tết này có đủ tiền về xe không nữa.

 

Rồi tiếp tục hỏi thăm , rồi nghe, rồi thấy, rồi lại hỏi , rồi tâm sự mới hiểu hết trăm nỗi cơ hàn của những con người xa lạ ấy. Họ nào có ước mơ cao sang gì đâu, chỉ là đem con chữ cho tuổi trẻ, những niềm hy vọng mong manh dù là nhỏ nhoi thì cũng là niềm an ủi lớn lao họ luôn mang theo trong suốt cuộc hành trình giữa chốn phố thị phồn hoa. Bao niềm hy vọng, ước mơ được trao lại cho con trẻ. Cho dẫu không phải là ước mơ giàu sang thì cũng mong cho nó ra đời có cái chữ để nhìn được với đời.

 

Nhưng cũng ở ngay giữa phố thị phồn hoa ấy, hãy còn những đứa trẻ đen đúa, nhem nhuốc, chìa những bàn tay nhỏ bé mong nhận được lòng từ bi của người qua đường bằng những đồng tiền lẻ hay những tờ giấy bạc mệnh giá thấp. Có thể những đứa trẻ ấy là nạn nhân của sự bóc lột sức lao động trẻ thơ, có thể là ba mẹ chúng nghèo quá, đành “nương” nhờ vào sự hồn nhiên để động lòng người qua đường của chúng. Nhưng cho dù là cái “có thể” nào thì than ôi chúng đi làm quá sớm. Tuổi thơ của chúng bị “đánh cắp” bởi những suy nghĩ nông cạn, bởi cái nghèo, bởi những con người không có nghĩ cho trẻ thơ. Những đứa trẻ không may mắn ấy sẽ không may mắn suốt cuộc đời nếu không có con chữ chắp cánh, xóa nhòa đi cho “tuổi thơ dữ dội” ấy. Cũng là những cảnh nghèo như nhau, nhưng sao mà tương phản quá. Một bên là tuổi già hy sinh hơn nửa đời người để mong mỏi con trẻ có con chữ, để chắp cánh cho những ước mơ. Một bên cũng là tuổi già nhưng phần hy sinh lại thuộc về con trẻ thì cho dẫu là lý do nào đi chăng nữa cũng không thể biện minh nổi cho những con người vô cảm ấy. Một sự tương phản kì cục rồi đến kì lạ! Chúng ta đã cố gắng rất nhiều, vâng rất nhiều để xóa đói giảm nghèo, song thực trạng trên vẫn là một vấn đề nhức nhối cho xã hội hàng bao năm qua, cần được quan tâm và cải thiện.

 

Nhưng ta hãy vui và có quyền nghĩ, thậm chí hạnh phúc thay vì hãy còn đó những con người dẫu nặng gánh trên vai trăm nỗi cơ hàn, mà vẫn mong mỏi đem con chữ về cho con trẻ trong câu nói “Con chỉ có học mới đỡ khổ thôi con à” . Đơn giản vậy thôi mà nghe như  là một danh ngôn, một triết lý ở đời mà những người cha, người mẹ dặn những đứa con thân yêu của mình. Cái truyền thống hiếu học của người Việt Nam vẫn thế, và muôn đời vẫn thế. Luôn chấp nhận hy sinh, bươn chải trên những bước chân đường đời trên phố thị ồn ào, đông đúc để con trẻ được gần hơn với con chữ. Việt Nam chúng ta đúng là thiệt thòi quá! Những hậu quả nặng nề của chiến tranh sau hơn 30 năm luôn là một lời nhắc nhớ cho thế hệ con cháu hôm nay và mãi về sau phát huy hơn nữa cái truyền thống đầy tự hào ấy, để  “giữ” cho nước “mạnh” , để  “dựng”  cho nước “giàu”. Đó cũng là mong mỏi của thế hệ cha ông ngày trước.

 

Vất vả là thế, cơ cực là thế và trăm nỗi cơ hàn cũng là thế, nhưng những cái “ là thế” ấy cũng để nuôi đứa con yên tâm ăn học trong đất Sài thành, bao nỗi nhọc nhằn như dần tan biến cũng giống như những hạt bụi trên phố phường Sài Gòn vậy. Âu đó cũng là niềm an ủi lớn lắm thay.

 

Có khi nào vất vả quá, cô cho nó nghỉ học theo phụ cô đi bán hàng không?- tôi hỏi

 

Dù vất vả thế nào cũng phải cho nó ăn học tới nơi tới chốn chứ chú!

 

Câu trả lời cũng là một người bán hàng xa lạ khác khiến ta phần nào vui mừng. Vui mừng lắm chứ vì vẫn còn đó những con người vì trẻ thơ, vì thế hệ mai sau và cũng có thể là chính vì họ đấy, để mong những đứa con thân yêu của mình hóa giải “ lời nguyền” cho cái kiếp nghèo đã theo họ hơn nửa đời người. Ta có quyền hy vọng về công cuộc không phải phục hồi nữa, mà là công cuộc phát triển kinh tế lắm chứ.

 

Dù vất vả thế nào cũng phải cho nó ăn học tới nơi tới chốn chứ chú!

 

Câu nói đầy quả quyết trên quá đủ cho một lời kết thì… ta kết vậy!

 

Những nẻo đường Sài Gòn, ngày 07 tháng 02 năm 2010

 


 


Back
 
 

Your Opinion

Name

Address 

Title

Content

SERVICES

-------------------------------------

Construction Consultancy

-------------------------------------

Industry Inspection

-------------------------------------

Non Destructive Testing

-------------------------------------

Management Consultancy

-------------------------------------

Training

-------------------------------------



Web link